ĐĂNG NHẬP  
image banner
Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An năm 2021

I. Những thuận lợi và khó khăn trong năm 2021

Năm 2021 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm đầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020-2025 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025; tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp, nhiệm kỳ 2021-2026. Sự bùng phát của dịch Covid-19 lần thứ 4 trong phạm vi cả nước và trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã tác động tiêu cực, ảnh hưởng nặng nề, sâu rộng đến mọi mặt của đời sống và việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của năm 2021.

Trong bối cảnh đó, để thực hiện thành công mục tiêu “kép” theo chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy, HĐND, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh đã chỉ đạo, điều hành quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm, kịp thời, thống nhất các nhiệm vụ kinh tế, chính trị. Cùng với đó là sự đồng thuận, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, đã thực hiện nhiệm vụ ổn định, phát triển kinh tế - xã hội trên tất cả các lĩnh vực, đồng thời, thực hiện đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng. Do đó, tình hình kinh tế - xã hội năm 2021 cơ bản ổn định, một số ngành, lĩnh vực đạt được kết quả tăng trưởng khá. Kết quả thực hiện trên các lĩnh vực cụ thể như sau:

II. Kết quả đạt được

1. Tăng trưởng kinh tế

GRDP năm 2021 tăng 6,20% (quý I tăng 9,88%; quý II tăng 5,49%; quý III tăng 2,70%; quý IV tăng 7,44%), là mức tăng trưởng ấn tượng trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp và ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội thì đây là thành công lớn của tỉnh Nghệ An với mức tăng trưởng năm 2021 đứng thứ 3 khu vực Bắc Trung Bộ và thứ 22 của cả nước.

Trong mức tăng chung của toàn tỉnh, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,59%, đóng góp 19,68% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 13,59%, đóng góp 66,18%; khu vực dịch vụ tăng 1,26%, đóng góp 8,75%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,53%, đóng góp 5,38%.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, sản lượng của một số cây trồng như lúa, cây ăn quả, sản phẩm thịt lợn hơi, sữa bò tươi và sản lượng thủy sản khai thác năm 2021 tăng khá nên tốc độ tăng của khu vực này đạt cao hơn năm 2020. Ngành nông nghiệp đóng góp 0,86 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh; ngành lâm nghiệp đóng góp 0,15 điểm phần trăm; ngành thủy sản đóng góp 0,21 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp đóng góp 3,09 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn tỉnh. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo đóng vai trò chủ chốt dẫn dắt tăng trưởng của nền kinh tế với mức tăng 19,07%, đóng góp 2,37 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện đóng góp 0,56 điểm phần trăm; khai khoáng đóng góp 0,15 điểm phần trăm. Ngành xây dựng đóng góp 1,02 điểm phần trăm.

Dịch Covid-19 làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động thương mại và dịch vụ. Khu vực dịch vụ trong năm 2021 đạt mức tăng thấp nhất trong các năm 2016-2021. Bán buôn và bán lẻ đóng góp 0,08 điểm phần trăm; vận tải, kho bãi đóng góp 0,14 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm đóng góp 0,35 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 0,53 điểm phần trăm.

Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,53% do thu ngân sách năm 2021 tăng cao, nhất là các khoản thu của doanh nghiệp, cá thể thuộc dòng thuế sản phẩm như thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất, nhập khẩu.

Về cơ cấu nền kinh tế năm 2021, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 24,57%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 29,48%; khu vực dịch vụ chiếm 40,87%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,08%.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông, lâm, thủy sản năm 2021 phát triển ổn định, đạt nhiều thắng lợi, đặc biệt là vụ Xuân, Hè Thu thời tiết rất thuận lợi, ít sâu bệnh, định hướng về cơ cấu, thời vụ gieo trồng, vật nuôi được thống nhất, tăng nhanh giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích. Nhìn chung năng suất, sản lượng cây trồng đều cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước.

a) Nông nghiệp

Kết quả sản xuất cây hàng năm

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm cả năm 2021 đạt 352.367 ha, so với cùng kỳ bằng 99,81% (-657 ha). Trong đó: vụ Đông Xuân toàn tỉnh đạt 185.399 ha, giảm 1,03% (-1.939 ha); vụ Hè thu đạt 86.387 ha, tăng 5,74% (+4.690 ha); vụ Mùa đạt 80.581 ha, giảm 4,06% (-3.408 ha).

Cây lúa: diện tích gieo cấy đạt 179.378 ha, giảm 0,46% (-835 ha) so với năm 2020; năng suất sơ bộ đạt 58,15 tạ/ha, tăng 4,08 tạ/ha; sản lượng đạt 1.043.070 tấn, tăng 7,05% (+68.704 tấn). Cây ngô: diện tích gieo trồng đạt 45.737 ha, tăng 0,49% (+224 ha) so với năm trước; năng suất sơ bộ đạt 45,53 tạ/ha, tăng 0,84 tạ/ha so với năm trước; sản lượng đạt 208.258 tấn, tăng 2,39% (+4.862 tấn). Cây lấy củ có chất bột: diện tích gieo trồng ước đạt 17.863 ha, giảm 1,10% (-200 ha) so với năm trước. Cây rau, đậu các loại và hoa: diện tích gieo trồng đạt 41.632 ha, tăng 2,32% so với năm 2020.

Kết quả sản xuất cây lâu năm

Tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh năm 2021 sơ bộ đạt 46.378 ha, giảm 1,08% (-505 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Cây ăn quả: diện tích đạt 22.205 ha, giảm 2,62% (-597 ha) so với năm 2020, tăng chủ yếu ở nhóm các cây ăn quả nhiệt đới và cận nhiệt đới, tăng 102 ha. Cây lấy quả chứa dầu: diện tích đạt 191 ha, giảm 0,93% (-2 ha) so với cùng kỳ năm 2020. Cây cao su: diện tích hiện có năm 2021 đạt 9.486 ha, giảm 2,16% (-210 ha) so với năm ngoái. Cây cà phê: diện tích đạt 12 ha, giảm 17,35% (-3 ha). Cây chè: diện tích đạt 11.572 ha, tăng 1,65% (+188 ha). Cây gia vị và cây dược liệu lâu năm: diện tích đạt 1.781 ha, tăng 8,97% (+147 ha).

Chăn nuôi

Tổng đàn trâu ước đạt 268.038 con, giảm 0,11% (-282 con) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 12.526 tấn, tăng 3,28% (+398 tấn).

Tổng đàn bò ước đạt 503.411 con, tăng 3,60% (+17.511 con). Trong đó đàn bò sữa ước đạt 74.894 con, tăng 8,44% (+ 5.832 con). Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước đạt 20.372 tấn, tăng 4,02% (+787 tấn) so với cùng kỳ năm 2020. Sản lượng sữa bò ước đạt 257.680 tấn, tăng 6,54% (+15.818 tấn).

Tổng đàn lợn tại ước đạt 930.821 con, tăng 2,88 % (+26.077 con) so với cùng kỳ năm 2020. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 141.040 tấn, tăng 3,36% (+4.585 tấn).

Tổng đàn gia cầm ước đạt 30.658 nghìn con, tăng 8,03 % (+2.279 nghìn con) so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó: tổng đàn gà ước đạt 25.628 nghìn con, tăng 8,94% (+2.104 nghìn con). Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất ước đạt 72.581 tấn, so với cùng kỳ năm 2020 tăng 7,77% (+5.233 tấn).

Tình hình dịch bệnh:

Bệnh Viêm da nổi cục (VDNC): Lũy kế từ đầu năm đến nay có 355 ổ dịch VDNC (7.219 hộ/1.487 xóm/353 xã) ở 21 huyện, thành phố, thị xã. Lũy kế số gia súc mắc bệnh: 9.748 con trâu, bò; số gia súc chết là 2.423 con; trọng lượng tiêu hủy: 327.102 kg.

Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Lũy kế năm 2021, bệnh DTLCP đã xảy ra tại 10.435 hộ, 1.977 xóm, 330 xã (525 ổ dịch) thuộc 21 huyện, thành, thị. Tổng số lợn đã tiêu hủy: 35.539 con, tổng trọng lượng 2.113.266 kg.

Bệnh lở mồm long móng: Xảy ra 06 ổ dịch tại 5 huyện Nghĩa Đàn, Quỳnh Lưu, Diễn châu, Tân Kỳ, Đô Lương. Số gia súc mắc bệnh: 87 con (38 trâu, 44 bò, 5 lợn). Số gia súc buộc tiêu hủy: 06 con (01 bò, 5 lợn).

b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới tập trung cả năm ước đạt 19.756 ha, tăng 6,60% (+1.223 ha). Năm nay thời tiết mát mẻ, mưa rải rác trên toàn tỉnh, đất có độ ẩm cao, thuận lợi cho việc trồng rừng đúng tiến độ, đảm bảo đúng kế hoạch đề ra.

Sản lượng gỗ khai thác rừng trồng cả năm 2021 ước đạt 1.501.791 m3, tăng 13,8% (+182.114 m3). Sản lượng củi khai thác ước đạt 1.046.662 ste, tăng 2,47% (+25.273 ste).

Năm 2021 xảy ra 234 vụ phá rừng, diện tích rừng bị phá là 77,22 ha. Công tác bảo vệ rừng thường xuyên được quan tâm, tăng cường công tác tuyên truyền, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng.

c) Thủy sản

Tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản năm 2021 tăng khá do thời tiết thuận lợi cho ngư dân ra khơi. Sản lượng ước đạt 263.333 tấn, tăng 8,27% (+20.109 tấn). Sản lượng khai thác đạt 200.049 tấn, tăng 7,92% (+14.674 tấn). Sản lượng nuôi trồng đạt 63.284 tấn, tăng 9,39% (+5.434 tấn).

Chính phủ và UBND tỉnh đã có nhiều chính sách hỗ trợ về nguồn lực đầu tư, vốn, quy trình nuôi trồng... Các cơ chế chính sách phát triển thủy sản được sửa đổi, bổ sung phù hợp với thực tiễn.. Thực hiện nghiêm ngặt các quy định về khai thác hải sản theo mùa vụ, nghiêm cấm khai thác hải sản trong mùa vụ sinh sản, nghiêm cấm sử dụng các công cụ khai thác hủy hoại môi trường và nguồn lợi hải sản.

3. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá trong bối cảnh chịu nhiều tác động của dịch Covid-19 do một số ngành, sản phẩm vẫn đạt được mức tăng trưởng khá cao. Bên cạnh đó một số nhà máy với giá trị sản phẩm cao đã đi vào hoạt động từ đầu năm như: nhà máy Xi măng Tân Thắng, Nhà máy may An Hưng, Nhà máy Luxshare ICT Nghệ An…

Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2021 tăng 16,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 21,00%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,69%; công nghiệp khai khoáng tăng 14,73%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,83%.

Một số sản phẩm chủ yếu tăng so với năm trước như: Quần áo không dệt kim tăng 63,15%; Tôn lợp tăng 41,78%; Sợi tăng 30,59%; Xi măng tăng 21,84%; Ống nhựa Tiền Phong tăng 20,16%; Clanhke xi măng tăng 16,34%; Bao bì bằng giấy tăng 10,36%… Ngoài ra một số sản phẩm giảm như: Nắp lon bia giảm 37,30%; Vỏ bào, dăm gỗ giảm 21,35%; Thiếc chưa gia công giảm 19,14%; Vỏ hộp lon bia giảm 18,92%; Bia đóng chai giảm 15,17%; Đường giảm 13,04%,…

4. Hoạt động của doanh nghiệp

Xác định được tầm quan trọng của doanh nghiệp trong đóng góp vào phát triển kinh tế và xã hội, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở ngành, địa phương triển khai, đồng bộ các cơ chế, chính sách nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, xúc tiến đầu tư và hỗ trợ phát triển doanh nghiêp. Đồng thời chủ động nắm bắt các vướng mắc, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp.

Tính đến ngày 17/12/2021, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 1.872 doanh nghiệp, tăng 3,14% so với cùng kỳ với tổng số vốn đăng ký là 20.098 tỷ đồng, tăng 29,99%. Có 769 doanh nghiệp đăng ký hoạt động trở lại, tăng 156 doanh nghiệp so với cùng kỳ 2020. Số doanh nghiệp đăng ký tạm dừng hoạt động là 1.034 doanh nghiệp, tăng 214 doanh nghiệp so cùng kỳ.

Năm 2021, có 1.034 doanh nghiệp đăng ký tạm dừng hoạt động, tăng 214 doanh nghiệp so cùng kỳ. Số chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh tạm dừng hoạt động là 106 doanh nghiệp, tăng 31 doanh nghiệp. Có 145 doanh nghiệp giải thể, tăng 33 đơn vị. Số chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh chấm dứt hoạt động là 113 đơn vị. Các cấp, ngành chủ động nắm bắt các khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp để kịp thời xem xét, hỗ trợ, giải quyết thỏa đáng cho doanh nghiệp.

5. Thương mại và dịch vụ

Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19 được ban hành kịp thời và tích cực triển khai thực hiện. Các hoạt động kinh doanh dịch vụ đang dần trở về trạng thái “bình thường mới”. Lĩnh vực thương mại, dịch vụ là khu vực chịu tác động nặng nề nhất của dịch Covid-19 song một số ngành dịch vụ vẫn đạt được mức tăng trưởng khá. Hoạt động vận tải gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là vận tải hành khách.

Doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2021 ước đạt 66.849 tỷ đồng giảm 2,36% so với năm ngoái. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước đạt 5.130 tỷ đồng, giảm 30,90%. Doanh thu hoạt động dịch vụ khác (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành) ước đạt 4.829 tỷ đồng, giảm 19,38%.

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải cả năm 2021 ước đạt 10.956 tỷ đồng, tăng 2,51%. Trong đó doanh thu vận tải hàng hóa 7.464 tỷ đồng, tăng 8,81%; doanh thu vận tải hành khách 1.857 tỷ đồng, giảm 23,10% và doanh thu bốc xếp, dịch vụ vận tải 1.624 tỷ đồng, tăng 13,08%.

6. Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm

Thu ngân sách năm 2021 vượt tiến độ dự toán HĐND tỉnh giao, chi ngân sách đảm bảo các nhiệm vụ chi theo dự toán HĐND tỉnh giao từ đầu năm, góp phần thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19, cũng như kịp thời hỗ trợ cho doanh nghiệp, người dân gặp khó khăn, tạo động lực cho phục hồi và phát triển kinh tế xã hội.

Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2021 ước tính đạt 18.057 tỷ đồng, vượt 28,64% dự toán, tăng 1,23% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, thu nội địa ước đạt 16.398 tỷ đồng, vượt 28,29% dự toán, bằng 98,44% cùng kỳ; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 1.655 tỷ đồng, vượt 32,40% dự toán, tăng 40,47% so với cùng kỳ.

Tổng chi ngân sách địa phương năm 2021 ước tính đạt 27.984 tỷ đồng, đạt 108,8% dự toán trình HĐND tỉnh điều chỉnh. So với dự toán điều chỉnh: Chi đầu tư phát triển: ước thực hiện 8.500 tỷ đồng, đạt 130,80%; Chi thường xuyên: ước thực hiện 18.995 tỷ đồng đạt 101,41%. Chủ yếu tập trung chi lương, các khoản có tính chất lương, hỗ trợ kinh phí cho đối tượng bảo trợ xã hội, phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026, phòng chống dịch bệnh Covid-19,…

Ước tính đến cuối năm 2021, nguồn vốn huy động trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 175.291 tỷ đồng, tăng 11,3% (+17.797 tỷ đồng) so với đầu năm; Tổng dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn đạt khoảng 241.853 tỷ đồng, tăng 7% (+15.822 tỷ đồng) so với đầu năm. Tỷ lệ nợ xấu chiếm khoảng 0,67% tổng dư nợ, luôn giữ ở mức thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung của cả nước.

Ước tính đến hết năm 2021, toàn tỉnh có 2.941.133 người tham gia BHXH, BHYT, BHXH tự nguyện, BHTN, tăng 0,7% (+21.296 người) so với năm 2020. Tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 91,0% dân số. Giải quyết cho 118.850 lượt người hưởng chế độ BHXH, bằng 97,68% so với năm 2020.

7. Đầu tư và xây dựng

Năm 2021, tỉnh đã tập trung chỉ đạo, điều hành kế hoạch xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư ngay từ đầu năm. Tập trung phương án đảm bảo nguyên tắc, thứ tự ưu tiên, hỗ trợ các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, hoàn thành các dự án chuyển tiếp, khắc phục tình trạng phân tán, dàn trải, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư.

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh cả năm ước đạt 82.953,7 tỷ đồng, tăng 9,49% so cùng kỳ. Trong đó: vốn nhà nước ước đạt 15.397,3 tỷ đồng, giảm 6,58%. Vốn ngoài nhà nước ước đạt 64.862 tỷ đồng, tăng 14,13%. Khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 2.694,4 tỷ đồng, tăng 10,06%.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý cả năm đạt 6.770,4 tỷ đồng, giảm 12,86%. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 3.360,6 tỷ đồng, giảm 9,21%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước đạt 2.072,1 tỷ đồng, giảm 14,83%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 1.337,8 tỷ đồng, giảm 18,19%.

Những dự án trọng điểm được Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ: Dự án quản lý tài sản địa phương (LRAM) hợp phần tỉnh Nghệ An với tổng mức đầu tư 9.203,4 tỷ đồng, ước thực hiện đầu tư trong kỳ 189,6 tỷ đồng; Đường Mường Xén - Ta Đo - Khe Kiền với tổng mức đầu tư 768,2 tỷ đồng, ước thực hiện đầu tư trong kỳ 115,5 tỷ đồng; Đường ven biển từ Nghi Sơn (Thanh Hóa) đến Cửa Lò (Nghệ An) - Đoạn từ điểm giao quốc lộ 46 đến tỉnh lộ 535 (km 76-km83) với tổng mức đầu tư 521 tỷ đồng, ước thực hiện đầu tư trong tháng 146 tỷ đồng,...

8. Chỉ số giá

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 năm 2021giảm 0,55% so với tháng trước, tăng 1,04% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân cả năm 2021, chỉ số giá tiêu dùng tăng 1,37% so với năm 2020.

Chỉ số giá tiêu dùng cả năm tăng mạnh nhất là nhóm giao thông tăng 8,79%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,45%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,43%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,85%; giáo dục tăng 0,81%; nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 0,78%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,72%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,26%; Bên cạnh đó, có nhóm hàng hóa giảm là: bưu chính viễn thông giảm 0,40%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,12%. Thuốc và dịch vụ y tế đứng giá.

Chỉ số giá vàng so với tháng trước giảm 0,22%, so với tháng 12/2020 giảm 2,22%. Chỉ số đô la Mỹ tăng 0,44% so với tháng trước, so với tháng 12/2020 tăng 11,40%.

9.  Một số lĩnh vực xã hội

 Trước tình hình Dịch Covid-19 bùng phát lần thứ 4 đã đặt ra không ít thách thức trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Các cấp, các ban, ngành thực hiện đồng bộ, linh hoạt, hiệu quả mục tiêu vừa phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, nỗ lực phấn đấu cao nhất thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2021. Nhân dân ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, đời sống của các tầng lớp nhân dân được ổn định và ngày càng được nâng lên.

a) Dân số, lao động và việc làm

Dân số trung bình tỉnh Nghệ An năm 2021 ước đạt 3.415,9 nghìn người, đứng thứ 4 cả nước, góp phần tạo ra nguồn lao động dồi dào. Trong đó lực lượng lao động có hơn 1,9 triệu người, hàng năm bổ sung hơn 30 nghìn người và đang ở trong thời kỳ “dân số vàng”, đây là lợi thế về nguồn lao động dồi dào nhưng cũng là thách thức khi giải quyết việc làm cho người lao động.

Tập trung chỉ đạo thực hiện tốt kết nối cung - cầu, giải quyết việc làm cho người lao động, dự ước năm 2021 giải quyết việc làm cho 38.850 người. Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh chủ động kết nối, thông tin việc làm trong và ngoài nước, qua trang Web, Zalo và fanpage để kịp thời hỗ trợ, đã cung cấp thông tin, tư vấn giới thiệu trên 30.809 vị trí việc làm cho người lao động.

b) Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội

Sản xuất nông nghiệp được mùa, bên cạnh đó Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách phát triển kinh tế - xã hội nên đời sống nhân dân được quan tâm và ổn định. Thực hiện việc cấp giấy chứng nhận hộ nghèo cho 34.161 hộ, cấp giấy chứng nhận hộ cận nghèo cho: 53.990 hộ.

Tính đến 16/11/2021, đã phê duyệt hỗ trợ cho 72.871 lượt đối tượng gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, kinh phí 106,84 tỷ đồng (đạt tỷ lệ 64,11% số đối tượng, 52,52% kinh phí dự kiến hỗ trợ). Cơ quan BHXH tỉnh đã thực hiện giảm mức đóng vào Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp cho 148.207 người lao động tại 6.632 doanh nghiệp với số tiền 13.246 triệu đồng; hỗ trợ cho 143.334 lao động đang tham gia BHTN và 12.134 người đã dừng tham gia BHTN với số tiền 369.659 triệu đồng từ kết dư Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Tham mưu phân bổ từ nguồn dự trữ quốc gia 727.875 kg gạo cho 12.476 hộ dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021. Hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch Covid-19 341.100 kg cho 4.579 hộ.

c) Giáo dục, y tế, văn hóa và thể thao

Ngành giáo dục và đào tạo đã hoàn thành chương trình, kết thúc năm học 2020-2021 và được tặng cờ thi đua. Tỉnh Nghệ An nằm trong top 5 cả nước về học sinh giỏi năm học 2020-2021. Kết quả: 05 Huy chương quốc tế và khu vực (1 HCV, 4 HCB); 81 giải HSG quốc gia (có 7 giải nhất, 25 giải nhì, 27 gải ba, 22 giải khuyến khích). Kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2021 tăng 7 bậc so với 2020. Lũy kế đến 15/11/2021, đã công nhận mới 19 trường, công nhận lại và nâng chuẩn 80 trường. Tổng số trường đạt chuẩn là 962 trường, dự kiến kết thúc năm 2021 sẽ có 1.065 trường đạt chuẩn.

Ngành Y tế đã chủ động, tích cực và thực hiện kịp thời công tác phòng, chống dịch Covid-19. Thành lập 08 bệnh viện dã chiến và 02 Trung tâm hồi sức tích cực. Đến nay, còn 02 bệnh viện dã chiến số 3 và số 8 đang hoạt động với quy mô 1.200 giường. Hình thành mạng lưới xét nghiệm với 09 phòng xét nghiệm bằng kỹ thuật RT-PCR, công suất khoảng 40.000 mẫu/ngày (mẫu gộp 10). Có trên 2.500 cán bộ y tế, đủ khả năng lấy hơn 200.000 mẫu/ngày. Ước đến cuối năm 2021, tỷ lệ xã đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế đạt 93%; tỷ lệ trạm y tế có bác sỹ đạt 90%; đạt 11 bác sỹ/vạn dân; 35,72 giường bệnh/vạn dân; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng đạt 15,3%...

Năm 2021, tiêu chảy xảy ra 8.875 ca; sốt rét 5 ca; sốt xuất huyết 59 ca; ngộ độc thực phẩm 1 vụ. Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát bệnh tật của tỉnh, lũy kế đến ngày 30/11/2021, số người nhiễm HIV là 12.598 người, trong đó có 10.359 người trong tỉnh (82,23%), người ngoại tỉnh đến có 2.239 người (17,77%).

Công tác văn hóa thể thao được quan tâm chỉ đạo, tập trung tuyên truyền, trang trí cổ động và tổ chức các hoạt động văn hóa phục vụ nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn của dân tộc. Biên tập chương trình nghệ thuật, các tác phẩm âm nhạc về đề tài tuyên truyền phòng, chống Covid 19. Các vận động viên của tỉnh Nghệ An tham gia Giải vô địch kéo co Toàn quốc đạt 02 HCV, 03 HCB, 11 HCĐ; tham gia thi đấu 13 giải trong nước, đạt 91 huy chương các loại (16 HCV, 26 HCB, 49 HCĐ). VĐV tham gia đội tuyển quốc gia 08 người. Đội 1 câu lạc bộ bóng đá Sông Lam thi đấu giải chuyên nghiệp quốc gia năm 2021 (hiện xếp thứ 14). Đội U19 lọt vào vòng chung kết toàn quốc.

d) Tai nạn giao thông

Tai nạn giao thông: cả năm 2021 đã xảy ra 202 vụ, so với năm trước giảm 22,9%; Số người chết 124 người, giảm 20,00%; Số người bị thương 146 người, giảm 21,51%; ước giá trị thiệt hại 2,69 tỷ đồng.

Cả năm 2021 đã xảy ra 1.435 vụ phạm pháp kinh tế, giảm 22,01% với 1.859 đối tượng phạm pháp kinh tế. Phạm pháp hình sự xảy ra 1.242 vụ, giảm 82 vụ (-6,19%) với 1.882 đối tượng, giảm 162 đối tượng (-7,93%). 1.084  vụ buôn bán, vận chuyển ma túy bị phát hiện, giảm 27 vụ (-2,43%) so với cùng kỳ năm trước; bắt giữ 1.479 đối tượng, giảm 30 đối tượng (-1,99%). Số đối tượng sử dụng ma túy bị phát hiện 662 người, giảm 12,20%; số đối tượng hoạt động mại dâm 50 người, giảm 56,90%.

e) Thiệt hại do thiên tai, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Cả năm 2021, trên địa bàn tỉnh xảy ra 115 vụ cháy, nổ tăng 14,14% so với cùng kỳ (+14 vụ), ước tính giá trị thiệt hại 11.747 triệu đồng, giảm 60,19% (-17.758 triệu đồng) so với cùng kỳ.

Tình hình vi phạm môi trường trên địa bàn tỉnh vẫn diễn ra, số vụ vi phạm ngày càng tăng, tái diễn nhiều lần. Tổng chung năm 2021, trên toàn tỉnh đã xảy ra 1.043 vụ vi phạm môi trường, tăng 51,60% (+ 355 vụ), tổng số tiền xử phạt 2.282 triệu đồng, tăng gần 2,2 lần (+1.222 triệu đồng) so với cùng kỳ.

Tình hình các gói hỗ trợ dịch Covid-19:

Trước diễn biến phức tạp của làn sóng dịch Covid-19 lần thứ 4, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản để kịp thời chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ các giải pháp với quan điểm “cao hơn một mức, sớm hơn một bước” để đảm bảo ngăn chặn dịch bệnh lây lan trong cộng đồng. Tuyên truyền sâu rộng thông điệp 5K của Bộ Y tế. Tổ chức các đoàn kiểm tra, giám sát, hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật về tiêm chủng vắc-xin Covid-19 tại các địa phương.

Đến ngày 15/12/2021, tổng số vắc-xin đã tiêm là 3.566.295 liều, trong đó có 1.513.787 người đã tiêm đủ 2 mũi. Theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh đã phối hợp, hỗ trợ, chi viện nhân lực y tế qua 7 đợt chi viện với 320 cán bộ, nhân viên y tế hỗ trợ phòng chống dịch cho các tỉnh, thành bạn.

Lũy tích từ đầu mùa dịch đến sáng ngày 24/12/2021, trên địa bàn tỉnh đã ghi nhận 7.024 ca mắc Covid-19 ở 21 địa phương: TP Vinh: 1.099, Quỳnh Lưu: 612, Nghi Lộc: 555, Yên Thành: 528, Diễn Châu: 420, Quỳ Châu: 347, Con Cuông: 346, Quế Phong: 337, Tân Kỳ: 312, Đô Lương: 285, Hưng Nguyên: 275, Hoàng Mai: 271, Nghĩa Đàn: 262, Nam Đàn: 254, Thanh Chương: 226, Quỳ Hợp: 207, Cửa Lò: 189, Kỳ Sơn: 178, Tương Dương: 144, Anh Sơn: 93, Thái Hòa: 84...

Lũy tích số BN điều trị đã khỏi bệnh, ra viện: 5.679 BN. Lũy tích số BN tử vong: 33 BN. Số BN hiện đang điều trị: 1.312 BN.

Tổng số công dân từ các tỉnh phía Nam về từ ngày 1/10 đến nay là 55.018. Phát hiện 1.193 ca dương. 

Hưởng ứng tích cực lời kêu gọi của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Ủy ban MTTQ tỉnh Nghệ An "Toàn dân đoàn kết, ra sức phòng chống dịch Covid - 19",  tính từ ngày 28/5 đến 05/11/2021, đã tiếp nhận 171,62 tỷ đồng (trong đó tiếp nhận tiền 121,19 tỷ đồng, hàng hóa giá trị 50,43 tỷ đồng).

III. Giải pháp trong thời gian tới

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 có thể kéo dài, kinh tế thế giới còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định, khó lường, để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế năm 2022 đạt mức tăng trưởng khá, cần thực hiện như sau:

Một là, tập trung thực hiện linh hoạt, hiệu quả mục tiêu vừa phòng, chống dịch Covid-19, vừa phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội.

Hai là, thực hiện đồng bộ các giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy tăng trưởng các ngành, lĩnh vực gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.

Ba là, đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành xây dựng quy hoạch tỉnh; cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; tập trung thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp.

Bốn là, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, triển khai các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trọng điểm, hạ tầng kết nối; tăng cường quản lý hiệu quả thu, chi ngân sách.

 Năm là, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực gắn với đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng và phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ.

Sáu là, phát triển văn hóa, xã hội; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.

Bảy là, quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả, bền vững tài nguyên thiên nhiên; chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu.

Tám là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đẩy mạnh cải cách hành chính; thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số.

Chín là, tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Mười là, bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Mười một là, đẩy mạnh thông tin truyền thông, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tạo đồng thuận xã hội.

Cục Thống kê tỉnh Nghệ An
THÔNG BÁO
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 20
  • Hôm nay: 128
  • Trong tuần: 1 597
  • Tất cả: 57369